Thứ Ba, 20 tháng 4, 2010

Đam mê kiểu Khoa




(SVVN) Chân dung của HLV đội tuyển e-Sports Việt Nam được hình thành từ 3 niềm đam mê: máy tính, e-Sport và nhiếp ảnh. 8X Dương Vi Khoa quan niệm đã mê cái gì thì phải biến nó ra tấm ra món


Xứng danh “đàn chủ”

“Đàn chủ” của Diễn đàn tin học Việt Nam vốn con nhà thể thao chính tông. Thế nhưng, chưa bao giờ Khoa muốn trở thành VĐV chuyên nghiệp dù lúc nhỏ đã chơi thể thao thường xuyên. Ngay hồi tin học mới manh nha phổ biến ở Việt Nam, năm 1992, Khoa dồn hết sự đam mê của mình vào chiếc máy tính. Ngày nào cũng dán mắt vào màn hình 10-12 tiếng mà đến giờ thị lực Khoa vẫn ngon lành 10/10. Vào đại học, thấy nghiệp “thầy cãi” cũng chẳng phù hợp lắm với mình, Khoa bỏ ngang lúc đang là sinh viên năm thứ 3 ĐH Luật TP.HCM.

“Biết tôi bỏ học, bố mẹ rất bất ngờ. Nhưng tôi đưa ra cái bằng MCSE, trấn an: Với cái bằng này con có thể kiếm sống được”. Thì ra trong thời gian học Luật, cậu đã âm thầm học chứng chỉ MCSE của Microsoft. Khoa cùng với anh bạn “góp cổ phần” mỗi người 150 USD để đi học và tự học thêm, trao đổi với các thầy và bạn bè. Thời điểm năm 1999, lấy được MCSE là việc không dễ. Khoa trở thành người trẻ tuổi thứ 2 ở Việt Nam lấy được MCSE khi mới 19 tuổi. Không một ngày học công nghệ thông tin ở trường ĐH, tất cả những gì Khoa trang bị để lăn lộn kiếm sống sau khi rời trường Luật đều là tự học qua Internet. Không có bằng ĐH, nhưng Khoa đã làm việc ngon lành cho nhiều công ty lớn: Rudolf Lietz, VCCI, Vina Game, VASC, ILA Việt Nam, IDG Ventures Vietnam và bây giờ giữ vị trí eSport & Community Manager của VTC Online.

Khoa nói: “Ba mẹ, bác đều là dân thể thao nhưng tôi có đam mê khác. Cái gì cũng phải khởi đầu từ đam mê mới thành công. Tôi đam mê công nghệ vì chỉ có công nghệ mới rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam và thế giới”. Nhờ niềm đam mê này, Khoa có rất nhiều mối quan hệ với các hãng nổi tiếng như Intel, Canon, Acer, Gigabyte, Galaxy, Viva Marketing, Rapture Gaming (Singapore), e-Club Malaysia.

Tham gia nhiều forum IT của nước ngoài, Khoa tự hỏi: Sao người Việt Nam không thể có một forum như vậy bằng tiếng Việt? Thế là “Diễn đàn tin học” (ddth.com) ra đời đầu năm 2000 do Khoa làm “đàn chủ” với hơn 650.000 thành viên và trở thành một trong những diễn đàn uy tín nhất của giới tin học tại Việt Nam. Năm 2005, “đàn chủ” được Microsoft trao chứng nhận MVP (Microsoft Most Valuable Professional) vì những đóng góp cho cộng đồng IT Việt Nam. Gần như những sự kiện nổi bật của giới CNTT ở Việt Nam trong 10 năm qua đều có mặt ddth.com. Ai quan tâm đến tin học hẳn chưa quên vụ ICMS ầm ĩ cách đây vài năm. Chính Vi Khoa được xem như người hùng vì đã “bắt giò” nghi án copy mã nguồn mở của nhóm tác giả. “Ngày đó tôi cùng các bạn phải thức trắng 3 đêm túc trực để giữ diễn đàn không bị phá bởi kẻ xấu. Nguyên tắc làm việc của tôi là nói có sách mách có chứng”.

Từ game thủ đến HLV trưởng e-Sports

Một năm trở lại đây, e-Sports mới được biết đến tại Việt Nam. Nhưng 6 năm trước, Kylin (nick của Khoa trong các diễn đàn game) đã bắt đầu những bước đi đầu tiên để biến game trở thành một bộ môn thể thao. Mê máy tính, Khoa mê luôn game và là một tay sniper (bắn tỉa) có hạng của môn Counter Strike, Sudden Attack, CrossFire.

Như sự sắp đặt của số phận, cậu cả nhà họ Dương rồi lại gắn với nghiệp thể thao của gia đình. Những lần tham gia chơi online với các nhóm bạn nước ngoài, Khoa nhận ra ở một số nước, game được tổ chức thành môn thể thao. “e-Sports khác game thông thường ở tính đối kháng, chiến thuật, đồng đội và nhất là xuất phát của các bên là như nhau, đảm bảo sự công bằng. Một VĐV e-Sports không cần thiết phải “cày” level ngày đêm như game online mà chỉ cần tập luyện đúng cách. Khi bắt tay gầy dựng phong trào, tôi nhận ra tiềm năng của e-Sport Việt Nam là rất lớn” - Khoa kể.

vikhoa.jpg

Thời điểm năm 2003, môn Counter Strike thu hút rất nhiều các game thủ Việt. Khoa xách hành lý ra Hà Nội, tự bỏ tiền tổ chức một giải đấu nho nhỏ cho game thủ. Anh chàng còn cất công ghi lại các đoạn phim quay cảnh thi đấu rồi tung lên mạng để “câu” và khơi gợi sự hào hứng của người chơi, gây dựng phong trào. Số người tham gia trên các forum tăng vọt, đúng như Khoa mong muốn.

Để giành quyền phát hành bản quyền game Counter-Strike tại VN, Vi Khoa đã bỏ tiền túi ra, một điều mà nhiều người cho rằng anh bị “điên” khi nói đến chuyện bán game bản quyền ở trong nước. Tuy không có lợi nhuận, nhưng Khoa vẫn vui vẻ cho rằng mình rất “lời” khi đưa được e-Sports Việt phát triển đi lên từ cách làm tưởng rằng rất vô ích này. Đối tác e-Club (Malaysia) mời đội 1st.VN của Khoa dự các giải đấu quốc tế. Đây chính là tiền đề cho thành công của đội tuyển e-Sports VN tại AIG 3. Mọi thứ thuận lợi hơn cho Khoa khi Hiệp hội thể thao điện tử và giải trí Việt Nam được thành lập do ông bác ruột Dương Nghiệp Chí làm Phó chủ tịch. Với công sức gây dựng phong trào và sự hiểu biết về e-Sport, Khoa được Tổng cục TDTT bổ nhiệm làm HLV trưởng đội tuyển e-Sport Việt Nam tham dự Asian Indoor Games 3 với nhiệm vụ phải lấy được 1 HCĐ.

Có lẽ ai cũng biết, e-Sports Việt còn rất non trẻ trước các đối thủ hùng mạnh từ Hàn Quốc, Trung Quốc, Iran... Với tư cách chủ nhà, khi phải chọn 4 trong 6 môn e-Sports để tham gia AIG, chính Khoa đã quyết định bỏ 2 môn Starcraft và NBA Live để chọn lấy Need for Speed. Sự tính toán có tầm nhìn này cùng với cách chọn đường đi đúng đắn trong khi bốc thăm chia bảng đã mang về cho Việt Nam 1 HCV, 1HCB, 2HCĐ, vượt xa so với chỉ tiêu đặt ra.

Thành công của e-Sport Việt Nam tại AIG 3 đã mở ra một hướng mới và cách nhìn nhận mới về game. Khoa bày tỏ: “Chúng tôi không mê thì không tập luyện 5-6 năm nay để mang thành tích về cho đoàn thể thao và có cả nghị lực để vượt qua vài sự bất hợp lý trong khâu tổ chức của AIG3. Tôi chỉ mong truyền thông hãy nhìn nhận những mặt tích cực của game. Không có lĩnh vực nào chỉ toàn mặt xấu đâu”.

Kè kè máy ảnh bên mình

Ở sân Thống Nhất, Gò Đậu, Long An, Tây Ninh và cả Mỹ Đình, những chiều cuối tuần lại xuất hiện một tay phóng viên ảnh là lạ. Cũng áo bip chỉnh đề, vai khoác đồ nghề xịn tác nghiệp cạnh các phóng viên quen thuộc của làng thể thao.

Khoảng 2 năm nay, Khoa có niềm say mê mới: những chiếc máy ảnh kỹ thuật số. Mỗi khi có các loại máy, ống kính mới ra đời Khoa đều tìm cách mua. Để “quay vòng vốn”, Khoa và hai anh bạn mở dịch vụ cho thuê ống kính, phụ kiện máy ảnh thuộc hạng có “số má” ở Sài Gòn. Đến giờ, Khoa cũng không nhớ mình đã đổ bao nhiêu tiền để mua máy ảnh. Chỉ tính riêng số tiền góp vào dịch vụ cho thuê phụ kiện đã khoảng 50.000 USD.

vikhoa3.jpg.jpg

Không ai chỉ dạy, Khoa cứ thế tự học, tham gia vào các forum của dân ảnh để học hỏi. Khoa đang cộng tác ảnh cho vài tờ báo và website VFF. Ngày vợ sinh, anh vác máy vào đặc tả khuôn mặt con và sau đó làm luôn một bộ ảnh cho con một sản phụ cùng phòng rồi đóng album mang đến tặng.

Hôm đội lão tướng M.U và Liverpool sang Việt Nam đá giao hữu với lão tướng Việt Nam, Khoa mò ra tận sân Mỹ Đình để “câu cá sau cầu môn”. Khoa tâm đắc nhất với 2 tấm ảnh chụp sau lưới bắt khoảnh khắc thủ môn Tiến Anh nhoài người bất lực nhìn bóng bay vào lưới trong trận đấu với M.U. Anh cười khiêm tốn: “Tôi còn phải học hỏi cánh phóng viên ảnh nhiều! Nhưng tôi tin vài năm nữa mình có thể chụp ra trò vì mê cái gì thì tôi phải làm bằng được!”

Kinh doanh âm nhạc thời 2.0




(SVVN) Bạn có account trên Facebook để kết nối với một cộng đồng bạn bè bốn phương. Một ngày, trên trang chủ của bạn có đường link tới xem video clip của Susan Boyle – một thí sinh trong cuộc thi tài năng ở tận nước Anh; 48 tuổi, ngoại hình không hấp dẫn nhưng giọng hát tuyệt vời. Bạn click vào đường link và trang web YouTube hiện ra. Có thể 120 triệu người khác cũng đã làm giống y hệt bạn và giúp clip này trở thành clip được xem nhiều nhất trên YouTube trong năm 2009!


1. Nghệ sĩ thu mua sự chú ý ở mạng xã hội

Susan Boyle – cái tên được nhắc đến nhiều nhất trên các mạng xã hội trong năm nay – cuối cùng đã sở hữu album đầu tay bán chạy nhất (tính riêng tuần đầu tiên) trong lịch sử tại Anh và thành công vang dội tại Mỹ. Đó chỉ là một trong những giấc mơ ngọt ngào nhất mà các nghệ sĩ có thể mơ tới khi sử dụng các ứng dụng mới nhất của web 2.0. âm nhạc thời 2.0 là cuộc chơi của 3 “đại gia”: người sử dụng – nhà sản xuất/nghệ sĩ/hãng đĩa – nhà cung cấp “mặt bằng”. Nếu khi mới ra đời, các ứng dụng của Web 2.0 chủ yếu nhắm đến đối tượng đầu tiên vì nó đề cao tính liên kết, chia sẻ cộng đồng, ai cũng có thể tham gia, kiến tạo nội dung. Thì dần dà, nó trở thành công cụ cho đối tượng thứ hai để “thu mua” sự chú ý (đối tượng thứ 3 thì trong bất kỳ trường hợp nào cũng vẫn có lời!!!). Attention economy – ăn thua ở đây là ngôi sao nào được chú ý, bàn luận nhiều hơn.

Mạng xã hội như MySpace Music, Zing... (từ khóa năm nay phải là Facebook và Twitter) - ứng dụng phổ biến nhất của Web 2.0 - có ý nghĩa như một nhà văn hóa ảo, nơi tụ tập đông đảo người hâm mộ nhất và nếu nghệ sĩ muốn thành công, muốn gặp gỡ họ thì không thể không xuất hiện ở đây. Ở Việt Nam, tôi vẫn còn nhớ là vào khoảng đầu năm nay, khi blogger đang chao đảo bởi Yahoo!360 thì chỉ có một số ít xoay sang sử dụng Facebook; mà chủ yếu chắc là vì thấy nó có giao diện hiện đại, in-trend!

Ai ngờ, đến thời điểm này thì người người đã facebooking, ca sĩ, ban nhạc, người mẫu, diễn viên... bỏ blog để chạy sang Facebook lập group-nhóm người hâm mộ/quan tâm. Nhưng bạn đừng nghĩ rằng group chỉ là để thông báo sản phẩm mới! Ví dụ bạn thử đăng ký làm fan của Alicia Keys trên FB mà xem. Trong suốt thời điểm cô ấy ra album, fan có thể vào trang này để nghe thử và bình luận, đối thoại. Không chỉ thế bạn còn có thể tham gia vào quá trình sản xuất: quyết định bài hát, nghe thử, hay quyết luôn giá tiền CD như Radiohead đã làm – đó là cảm giác đặc quyền mà thần tượng + web 2.0 muốn mang lại cho bạn.

Các phương tiện truyền thông truyền thống như radio, TV hay báo in giờ cũng phải chạy theo thông tin từ mạng xã hội. Tại AMA 2009, Jennifer Lopez bất ngờ ngã oạch trên sàn diễn. Nếu không tồn tại cái gọi là YouTube thì chắc cô ấy cũng không bở hơi tai tốn sóng nhà đài mà đi thanh minh. Cũng như vậy, chỉ cần một dòng status ngắn ngủi: “Michael Jackson có thực bị nhồi máu cơ tim?”, 2,4 triệu người đang “follow” Twitter của nam diễn viên Ashton Kutcher có thể bùng nổ và thả con virus này lan nhanh như đại dịch trên mạng.

Một tiếng sau, status của Ashton rao “Tờ LA Times đã khẳng định đó là sự thật” thì trên Facebook hàng triệu người đã cùng tụ lại để cầu nguyện cho ông vua nhạc pop. Những điều mà trước đây cần cả tuần, cả tháng, cả năm thì nay biến thành hiện thực chỉ sau vài phút... Trong thời đại 2.0, tin tức sẽ tìm đến bạn, chứ không phải ngược lại. Trước đây, bạn phải đi tìm một bài hát đang nổi thì nay, nó sẽ tự gõ cửa Facebook hay Twitter của bạn, sớm hay muộn tùy vai trò của bạn: nhà báo, phê bình, fan hay anti-fan. Vì mục tiêu tối thượng của các nghệ sĩ khi xuất hiện trên mạng xã hội vẫn là trở nên phổ biến và để người khác bàn tán về họ. Liệu sản phẩm của họ có được ai bàn ra tán vào hay không, liều lượng thế nào sẽ tỉ lệ với xác suất kiếm ra tiền từ tên tuổi của họ!

Các nghệ sĩ tìm đến web 2.0 như blog, hay các trang mạng xã hội còn vì giá “thu mua sự chú ý” ở đây rẻ hơn nhiều so với trên truyền hình hay báo chí. Nếu giới trẻ lấy blog làm nguồn thông tin chính thì rõ là cần đầu tư vào blogger ngôi sao hơn là vào nhà báo ngôi sao! Blogger được trả tiền chỉ để viết về các ngôi sao và sản phẩm đâu là chuyện mới. Bởi đôi khi có trả tiền cho họ thì nghệ sĩ mới mong bán thêm được đĩa, hay ít nhất cũng có thêm người biết tới mình! Quay lại với ví dụ về MJ ở trên, nếu bạn để ý trên Facebook, bên cạnh các nội dung do fan tự upload có liên quan tới MJ, còn có một lời đề nghị nho nhỏ bên cạnh, hãy click vào đường link xyz để sở hữu hit Thriller của MJ... Đó chỉ là một trong vô vàn những mánh kinh doanh nhạc trong thời 2.0.

Ngoài ra, do áp lực tài chính, mô hình hãng đĩa truyền thống cũng đang dần được giảm nhẹ. Thay vì quản lý sở hữu nghệ sĩ, hãng đĩa chỉ có nhiệm vụ marketing, booking, networking và các hoạt động PR khác trên mạng.

2. Nhà cung cấp dùng hàng ... phạm pháp!

Mặt trái rõ ràng nhất của mạng xã hội là việc sử dụng các sản phẩm mà ngó lơ chuyện tác quyền. Có thể nói, ngành công nghiệp âm nhạc đã tương đối chậm chân so với YouTube và Google (đã mua lại YouTube.com trong năm nay với giá 1,65 tỉ đôla, vì đến gần đây họ mới bắt đầu đi kiện YouTube một cách quyết liệt về vấn đề vi phạm bản quyền. Nếu bạn vào trang YouTube thời gian này thì sẽ thấy nhiều clip không xem được vì IP không đúng vùng cho phép (thường là trong nước Mỹ, hoặc châu âu), hoặc các clip link từ Facebook cũng bị từ chối vì vi phạm bản quyền.

Với các hãng đĩa thì mục đích cuối cùng vẫn phải là lợi nhuận. Nên rất nhiều ông lớn của ngành công nghiệp âm nhạc và giải trí thế giới như Warner Brothers, Universal Music Group, Sony BMG Music Entertainment và CBS đã đồng loạt cùng nhau đâm đơn kiện khiến YouTube phải thoái lui cho đến khi mọi việc được ngã ngũ. Có thể trong thời gian tới YouTube sẽ phải chia chác lợi nhuận từ quảng cáo với các hãng này. Ví dụ gần đây là trong clip được xem nhiều thứ nhì năm nay trên YouTube có tên “Jill and Kevin’s Big Day” khi cô dâu chú rể cùng mọi người bước vào nhà thờ, ca khúc Forever của Chris Brown đã được sử dụng. Hãng Jive yêu cầu YouTube đặt quảng cáo cho người xem link tới Amazon hay iTunes để mua ca khúc này. Cách làm này xem ra cực kỳ hiệu quả vì hit này sau đó bán đắt như tôm tươi. Tuy nhiên, không phải lúc nào các hãng lớn cũng có thể chạy theo từng tình huống nhỏ lẻ như thế.

Từ năm 2000 tới 2008, lượng CD tiêu thụ trên toàn thế giới đã giảm 45% và với những hợp đồng đôi bên cùng có lợi như trên, YouTube có thể mang lại cho ngành công nghiệp âm nhạc khoản đền bù xấp xỉ 300 triệu đôla. Tại Anh, YouTube đã phải ký một hợp đồng trả tiền cho nghệ sĩ theo mô hình pay-per-view. Universal Music và YouTube cũng vừa cùng khai trương một website mới có tên Vevo, trong đó Universal vẫn có thể quản lý nội dung, chỉ sử dụng YouTube làm cổng để link người sử dụng tới website này. Về phía mình, tương lai YouTube cũng sẽ tách hoàn toàn các nội dung tự chế (amateur made clips) và nội dung có bản quyền (có thu phí) một cách rõ ràng!

Trong thời đại 2.0, tin tức sẽ tìm đến bạn, chứ không phải ngược lại. Trước đây, bạn phải đi tìm một bài hát đang nổi thì nay, nó sẽ tự gõ cửa Facebook hay Twitter của bạn, sớm hay muộn tùy vai trò của bạn: nhà báo, phê bình, fan hay anti-fan.

Những vòng tay vụn vỡ




(SVVN) Tác phẩm mới nhất của Pedro Almodóvar là Broken Embraces hay còn gọi Los abrazos rotos – Những vòng tay vụn vỡ đã không được chào đón nồng hậu tại quê nhà Tây Ban Nha như khi nó chu du ở Mỹ, châu âu và một phần châu Á – những nơi khán giả đã tin rằng tài năng và tên tuổi của Almodovar thuộc về số ít các nhà làm phim trữ tình bậc nhất hiện nay.


Tham vọng của sắc đẹp

Broken Embraces được xây dựng dựa trên nền tảng của phim thể loại neo-noir thuộc dòng melodrama quen thuộc thập niên 50 thế kỷ trước. Với sự xoay vòng chuẩn mực giữa hiện tại và quá khứ, giữa tình yêu và lòng thù hận, những bí mật, những lời nói dối… Cốt truyện Broken Embraces đơn giản, nhưng được kể lại một cách tài tình, đầy ẩn ý và hết sức quyến rũ. Một chuyện tình buồn của Lena – người đàn bà nhan sắc mặn mà, hành tung bí ẩn. Có gì đó rất mạo hiểm khi ta đối diện nàng hoặc phiêu lưu cùng nàng trong trò chơi tình ái. Tuy nhiên, người đời vẫn biết: Hồng nhan thì bạc phận...

Cuộc đời Lena những ngày ở Madrid chẳng khác gì bức tranh đầy các mảng màu đối lập: hạnh phúc và khổ đau, lãnh nhận và mất mát... Năm 1992, Lena bươn chải trong cuộc sống gia đình chật vật: ban ngày cô làm thư ký cho Ernesto Martel ở một công ty kinh doanh. Martel gầy gò, khuôn mặt khắc khổ thiếu sự trượng phu thường thấy ở các đại gia lắm tiền. Ban đêm, Lena hành nghề gái gọi cao cấp để kiếm thêm thu nhập. Một ngày, gia đình Lena lâm chuyện chẳng lành: người cha bệnh tật mỏi mòn của Lena vào viện, không có tiền chạy chữa, cô phải nhờ cậy Martel.

Broken Embraces 3.jpg

Hai năm sau, ta chẳng còn hay gì đến tin tức cha mẹ Lena, ta chỉ thấy rất rõ cái kết quả nhờ vả vật chất đó thường đi đôi với sự đánh đổi thân xác và cả tâm hồn: Lena thuộc về tay triệu phú Martel. Lena trở thành một quí cô giàu có, bắt đầu tìm hiểu những đỉnh cao của nghệ thuật như rất nhiều những người danh giá biết cảm nhận cái đẹp. Lena đem lòng yêu điện ảnh. Cô muốn trở thành diễn viên. Dù Martel có chi tiền tài trợ để lăng-xê nàng hay không cũng chẳng quan trọng, bởi vì Lena thật sự có tài. Lena có bản lĩnh, có nhan sắc của một minh tinh màn bạc và những rung động làm xiêu lòng người đối diện. Tất cả những điều ấy mang cô đến với Mateo Blanco - nhà biên kịch đang lên cùng bộ phim sắp quay của anh.

Broken Embraces Tx1.jpg

Trên trường quay, Lena tất bật giữa hàng chục người vây quanh. Một ánh mắt người đàn ông luôn dõi theo cô, không chỉ khi cô xuất hiện trên màn hình monitor, mà còn vì Lena ngoài đời. Vâng, Mateo yêu Lena, ngay cái nhìn đầu tiên.
Nhưng cái nhìn bằng trái tim của Mateo bị hủy diệt bởi cái nhìn ghê rợn khác của Junior - con trai riêng của Martel làm việc này theo lệnh của ông. Martel muốn cậu ta theo dõi Lena thông qua màn hình của máy quay phim cầm tay hòng ghi lại tất cả thế giới riêng của Lena khi cô không là diễn viên trong cảnh quay.

Những máy quay

Những đoạn phim này sau đó đã được giao tận tay Martel, thông qua một phụ nữ làm thông dịch những câu thoại “thực” giữa Lena và Mateo. Họ đang “diễn” lại toàn bộ quá trình của một tình yêu. Đó không phải là phim câm, lời thoại từ trái tim họ cho thấy rõ tình yêu cháy bỏng và khao khát của hai con người đến với nhau bằng tình yêu điện ảnh.

Martel khám phá ra ông chẳng là gì với Lena ngoài tiền. Cao trào của việc theo dõi Lena hằng ngày là khi cô rời khỏi căn hộ của Mateo. Nhận ra máy quay trước mặt mình, Lena tức điên, xông vào chửi rủa. Những khung hình chao đảo, Lena loạng choạng bước đi trong bóng tối. Rồi Lena đứng sau cánh cửa phòng. Cô nhìn thấy chính mình trên màn ảnh, cô nghe thấy giọng nói trên màn ảnh như giọng nói của trái tim và tâm hồn cô. Những gì Lena đã nói trong cuốn băng video, được chính cô đứng ở thực tại lặp lại không sai một chữ. Đó là một trong những khoảnh khắc xúc động của Broken Embraces.

broken_embraces.jpg

Martel xô ngã Lena trên những bậc thang lúc cô định rời xa ông. Tình yêu ngỡ là sâu sắc của Martel thực ra chỉ là thứ tình cảm ích kỷ chiếm đoạt. Lena trọng thương, không thể tiếp tục quay phim. Chính lúc cô cùng Mateo bỏ đến vùng đất mới tận hưởng những ngày êm ấm thì với họ, đó là những ngày hạnh phúc cuối cùng…

Một mở đầu kỳ lạ

30 phút đầu của phim, Almodóvar đưa đến người xem kịch tính và uẩn khúc thông qua những cú cận cảnh đôi mắt Martel, hay đoạn montage cảnh hậu trường làm phim trong phần đầu, với hình ảnh Lena đang hóa thân vào nhân vật: tóc cột cao, ăn mặc lịch sự. Câu chuyện tiếp diễn với hai mốc thời gian 1992 và 2008, nhưng cùng ở Madrid. Ta sẽ không thấy sự liên kết nào đó giữa những cú cắt cảnh, vì tác giả chỉ đơn giản muốn giới thiệu hai nhân vật chính - nhà biên kịch kiêm đạo diễn Harry đang chìm vào quên lãng vì bị mù cả hai mắt sau một tai nạn và một Lena của thì quá khứ.

Harry Caine - nhà biên kịch mù sống cùng vợ và con trai Diego. Một thanh niên trẻ xuất hiện trong căn nhà Harry – tự xưng Ray X (tức Junior) với ý định giúp ông khơi gợi ý tưởng làm phim nhưng ông từ chối. Harry nhờ cậu con trai tiễn khách và lấy giúp ông một túi ni-lông cũ trong hộc tủ bàn làm việc. Ở đó, Diego phát hiện ra tấm ảnh đen trắng bán thân của một phụ nữ trẻ rất xinh đẹp, người đàn bà quan trọng trong đời Harry.

Với cách mở đầu bí ẩn và khơi gợi, Almodóvar như muốn làm khó những ai muốn viết về Broken Embraces, qua đó càng khẳng định tài năng kể chuyện bậc thầy của ông, không đi theo lối cổ điển thường thấy. Ta được biết Martel đã chết ở hiện tại. Diego - người con trai đang tò mò thắc mắc về bức ảnh phụ nữ lạ trong hộc tủ của cha mình. Harry không nói một lời giải thích nào. Tất cả những gì diễn ra là câu chuyện của Lena - người phụ nữ trong ảnh với một tình yêu vỡ tan tành. Harry- nhà biên kịch mù chính là tên khác của Mateo sau khi anh bị tai nạn. Đến lúc này, chúng ta đã sẵn sàng biết một vài bí mật, một vài hệ quả… Và chúng ta cần phải theo dõi câu chuyện để tìm hiểu các chi tiết đến tận cùng.

Broken Embraces 4.jpg

Sắc màu Almodóvar

Almodóvar vẫn trung thành với sắc đỏ rực. Lena – tiếp khách qua điện thoại, đầm ngủ đỏ bằng vải voan mỏng. Lena - diễn viên, đầm đỏ sậm ôm sát thân thể. Hay màu đỏ của những quả cà chua trong một cảnh phim mà Lena thủ vai… Tuy nhiên, ông lại đánh mất những ô vuông, tam giác... các biểu tượng mang tính toán học thường thấy trong các phim trước như Volver, Bad Education, Kika… Almodóvar đã “hâm nóng” người xem bằng cảnh làm tình đầu phim, giữa Harry mù và một cô diễn viên mới vào nghề. Mặc dù liên tiếp sau đó diễn ra những cảnh nóng bỏng khác, tình dục vẫn không phải là điểm nhấn quan trọng trong Broken Embraces.

Điểm đáng khen ngợi khác của phim chính là công tác biên tập và dựng phim. Nhiều cảnh quá khứ hiện tại đan xen, những khung hình mẫu mực và những hình ảnh ghi trực tiếp từ một máy quay “phim trong phim”. Những cảnh cắt nhảy giữa các biến chuyển này được sắp xếp nhuần nhuyễn, mang lại tính chân thực cho việc dàn dựng tác phẩm và tạo nên hiệu ứng cảm thụ thú vị.

Nhiều khung hình của Broken Embraces được đánh giá là kinh điển. Tác phẩm gần như không có toàn cảnh và đại cảnh. Những cú lia máy đắt giá ta có thể kể đến như đoạn Lena chạy trên cát, với theo những tờ báo lá cải bay dưới chân. Một cảnh khác khi cô và Mateo ân ái trên tấm nệm trắng. Máy quay chao đảo một cách khôn khéo, không sơ ý hoặc cố ý để lộ những chi tiết gợi dục trần trụi mà tập trung khai thác sự mãnh liệt trong những cái ôm chặt tưởng chừng như nghẹt thở...Những vòng tay vụn vỡ khi Lena không còn nữa, khi cô không còn trong vòng tay tình yêu của Mateo.

Lena đã bị giết như thế nào và Mateo – Harry hiện tại vì sao lại mù cả hai mắt? Liệu Lena có còn tồn tại trong trái tim của Mateo? Anh sẽ làm gì để có thể đưa cô trở lại với cuộc đời anh, nồng nàn và gần gũi như trước? Những câu hỏi phụ thuộc vào khán giả, những người có muốn câu trả lời thực sự hay không?

Những thước phim siêu rẻ




(SVVN) Có một nhóm làm phim sinh viên đã "làm mưa làm gió" trong giới sinh viên với những thước phim "siêu rẻ", làm nên một thương hiệu được đăng ký bản quyền sở hữu trí tuệ. Cư dân mạng vẫn gọi họ là R.E.G (Rainbow Entertaiment Group) - nhóm những nhà làm phim trẻ độc lập.



Lập nhóm để hỗ trợ nhau

Một người bạn cùng trường phải bỏ ra 5000 đôla Mỹ để làm một phim ngắn với thời lượng 8 phút. Như vậy, nếu muốn làm một phim truyện 80 phút, sẽ phải bỏ ra ít nhất 50.000 đôla Mỹ - nhiều hơn tổng cộng số tiền các thành viên trong nhóm phải trả để theo học trong trường điện ảnh. Các bạn sinh viên "nảy" ra ý tưởng hình thành một nhóm làm phim để giúp đỡ, hỗ trợ nhau trong quá trình học tập. Nhóm R.E.G ra đời khởi nguồn chỉ có 7 thành viên chính.

Tại thời điểm đó, trong trường đh Sân khấu điện ảnh có nhiều nhóm sinh viên hoạt động, song không phải nhóm làm phim nào cũng gắn kết với nhau lâu dài và có tầm chiến lược cụ thể. Sau một năm đầu đi vào hoạt động, R.E.G đã có những tác phẩm nhận được nhiều cái nhìn "thán phục" của các bạn sinh viên cùng trường và những cái gật đầu của nhiều giảng viên, đạo diễn.

"Thương hiệu" R.E.G dần được hình thành cũng là lúc nhóm bắt đầu nhận được những hợp đồng đầu tiên. Năm 2008 nhóm R.E.G chính thức ra mắt, có website riêng và thu nhận thêm những sinh viên đam mê với điện ảnh, truyền thông.

IMG_5500.JPG

Mỗi thành viên đóng 200 nghìn đồng

Làm phim sinh viên với đạo diễn sinh viên, quay phim sinh viên, thậm chí phần lớn diễn viên cũng là sinh viên nên khó khăn lớn nhất vẫn là "kinh phí". Khi mới hoạt động mỗi thành viên phải đóng 200 nghìn đồng làm vốn ban đầu.

IMG_5500.JPG

Từ việc thuê máy, tìm diễn viên, đến chọn bối cảnh, dựng phim…cái gì cũng phải gắn với chữ "tiền". Song nhờ biết cách vận dụng các mối quan hệ nên R.E.G thuê được máy móc, âm thanh, ánh sáng… chỉ với giá bằng ½ giá thị trường.

Có những bộ phim phải cần đến những diễn viên chuyên nghiệp. Nhưng để thuê được diễn viên chuyên nghiệp thì kinh phí rất tốn kém nên hầu hết phim sinh viên đều thuê là phụ mà nhờ vả là chính: "Giả như nếu phải thuê 2 triệu đồng thì xin khoảng 1 triệu đồng, phần còn lại thì nhờ giúp. Nhiều người thương sinh viên nên rất nhiệt tình giúp đỡ" - Lê Tùng bộc bạch.

Để giảm thiểu tối đa chi phí, phần lớn sinh viên làm phim đều "xin" diễn viên. Gọi là xin nhưng là vừa làm vừa giúp: "Có những diễn viên chỉ được trả "cát sê" 200 nghìn đồng/ngày mà phải đóng vai chính rất vất vả trong khi đó bình thường thuê một diễn viên quần chúng phải mất 500 nghìn đồng/ngày" - Thu Hà, một thành viên chủ chốt trong nhóm tâm sự.

Đối với phim chuyên nghiệp, khoản tốn kém nhất là bối cảnh. Mỗi câu chuyện, mỗi tình tiết đều gắn với những bối cảnh khác nhau, trong trường hợp không có bối cảnh phù hợp thì phải dựng bối cảnh. "Để tiết kiệm tối đa, R.E.G thường chia nhau tìm bối cảnh và lân la nhờ giúp đỡ. Nhìn đoàn làm phim sinh viên vất vả nhiều người cho mượn nhà mà không lấy một đồng nào." - Hoàng Đồng kể lại.

Vì thế giá mỗi bộ phim sinh viên chỉ bằng khoảng 1/20 giá thị trường. Trung bình một bộ phim dài khoảng 10- 20 phút có giá từ 9-12 triệu đồng, rẻ hơn rất nhiều so với giá thị trường là 180 - 220 triệu đồng. Tất nhiên, kinh phí còn phụ thuộc vào từng thể loại phim.

IMG_5632.JPG

Siêu rẻ nhưng không kém chất lượng

Những bộ phim đậm chất sinh viên với giá "siêu rẻ" nhưng không vì thế mà kém chất lượng. Bằng chứng là sau mỗi tác phẩm, R.E.G được nhiều người biết đến hơn và nhiều người tự tìm đến ký hợp đồng với nhóm.

Dự định của nhóm trong thời gian tới sẽ tổ chức một diễn đàn làm phim tại trường, đồng thời tài trợ cho việc làm phim sinh viên để chọn được những nhân sự tốt cho nhóm. Mong muốn lớn nhất của các thành viên trong nhóm là tạo dựng được một môi trường thuận lợi cho những nhà làm phim sinh viên trải nghề và là mảnh đất để những nhà làm phim trẻ khởi nghiệp.

Vang lên bởi yêu thương




(SVVN) Thực tế là một album mới trình làng có thể lan tỏa tên tuổi mau chóng trong đối tượng khách hàng trẻ tuổi, thế nhưng tréo ngoe là không có mấy ai trong giới này chịu bỏ tiền mua đĩa vì giờ đây có quá nhiều cách để nghe nhạc mà chẳng mất tiền


Đã qua tháng Ba, làng nhạc thế giới vẫn trong bầu không khí yên tĩnh. Yên tĩnh chờ đợi các xuất phẩm sẽ ra mắt dịp Hè, yên tĩnh cũng một phần vì tình hình kinh doanh không mấy sáng sủa.

Chiến binh tình yêu

Một lần nữa, đối tượng người nghe hơi cứng tuổi trở thành cứu tinh cho ngành công nghiệp băng đĩa. Cuối năm rồi, các bà nội trợ rỉ tai nhau mua đĩa I Dreamed a Dream của Susan Boyle giúp cho đĩa này mới phát hành hơn một tháng đã trở thành đĩa bán chạy hạng nhì của năm 2009. Giờ đây đến lượt Soldier of love, album mới của Sade bán được đến 502.000 bản, bóp còi qua mặt cả các album mới nhất của những tên tuổi sao Jay-Z, U2, Britney Spears trong tuần đầu phát hành.

Soldier of Love là album đầu tiên đưa Sade trở lại hạng nhất sau… 24 năm, từ thời album Promise đứng hạng nhất năm 1985. Đĩa nhạc trước của Sade là Lovers rock bán được 370.000 bản trong tuần đầu phát hành vào năm 2000. Kể từ đó, thì lượng đĩa bán ra nói chung của ngành công nghiệp băng đĩa liên tục sút giảm, thậm chí đến 50%. Thế nên con số trên nửa triệu đĩa của Sade được tiêu thụ trong một tuần quả rất đáng nể.

epic-records-sade.jpg

Sade vẫn giữ nguyên vẻ quyến rũ 10 năm trước với gốc gác lai giữa Nigeria và Anh. Nhưng hơn hết, cô luôn biết giữ cho mình một vẻ bí ẩn. Cô chọn hướng “hát nhiều nói ít” khi quảng bá cho đĩa mới. Cô hát trên nhiều show truyền hình đình đám có đông người xem như “Today,” “The View” và “Late Show With David Letterman” nhưng rất ít khi cô trả lời phỏng vấn. Nói chung, Sade đi ngược lại hoàn toàn bài bản marketing âm nhạc mà ngôi sao nào cũng thuộc nằm lòng.

Chính vì tạo được sự tò mò trong khán giả nên các đài phát thanh dòng chủ lưu (mainstream) vốn hơi nghiêng về hip-hop và R&B cũng chú ý và phát các bài hát mới của Sade.

Lúc Sade mới ra đĩa thời đầu sự nghiệp, hãng đĩa còn phải cẩn thận in trên bìa dòng chữ “Pronounced Shar-day” (Phát âm là Shar-day) để hướng dẫn đọc cho đúng tên của cô. Sau đó thì với thành công của Smooth operator, Your love is king từ album Diamond life, chuyện đọc tên không còn phải hướng dẫn nữa. Thậm chí Sade còn nhận được Huân chương thành viên đế chế Anh (Order of the British Empire) để ghi nhận những đóng góp của cô cho Anh quốc.

Người thông báo tin đầu tiên về đĩa này chính là một đồng nghiệp, đối thủ cạnh tranh vì tung ra đĩa cùng thời điểm với Sade là Maxwell. Khoảng tháng 3/2009, Maxwell vui vẻ khoe trên Facebook với fan rằng anh vừa nghe được một số ghi âm mới của Sade. Nhưng mãi một năm sau, tháng 2/2010 thì đĩa nhạc ấy mới được tung ra và leo ngay lên đầu Top. Nói thêm một chút, Maxwell sau lần vắng bóng 8 năm trời giờ cũng trở lại với đĩa BLACKsummers’night xếp hạng 1 Billboard và đang có mặt trong một số danh sách album hay nhất.

Đĩa mới, Sade vẫn tiếp tục xưng tụng tình yêu theo kiểu của mình. Nghe Sade nhè nhẹ, êm êm, lành lạnh giống như cắn vào một miếng thạch mềm mại, dai dai, ngọt dịu… Mà có lẽ, tình yêu thật ra cần phải vậy. Đôi khi ồn ào kịch tính cũng thú, nhưng cảm xúc bình yên vẫn là món quà mà người ta mong chờ nơi tình yêu hơn cả. Đĩa không có bài hát nổi bật. Tuy nhiên, chăm chú lắng nghe trọn đĩa với một ly cà phê trong tay là một cảm giác rất dễ chịu, Bạn đang bận làm bài hay đang đọc sách, lướt web, mở nhạc Sade để làm nền không phải là một gợi ý tồi đâu…

Hãy bỏ lại cái tôi ngoài cửa

Bài hát đầu tiên của Sade mà tôi được nghe là Why can’t we live together, qua clip nhạc chiếu trên truyền hình cách đây hơn 25 năm. Thời điểm đó ở trong nước, nhạc quốc tế thuộc hàng cực hiếm. Bản nhạc này vốn là một sáng tác của Timmy Thomas từ năm 1972 và được Sade hát lại trong album Diamond Life năm 1984. Version của Sade chậm rãi, lắc lư và khắc khoải. Bài hát không phải là tình ca của hai người yêu nhau không đến được với nhau mà là một ca khúc về tình nhân loại, dù cho anh có màu da thế nào đi nữa thì anh vẫn là người anh em của tôi. Mọi người đều muốn sống với nhau thế thì tại sao chúng ta lại không thể sống bên nhau?

Mới đây, một bản nhạc bất hủ về tình nhân loại, về thế giới đại đồng cũng vừa được ghi âm lại. 25 năm sau khi phát hành, We are the world đã được ghi âm lại với một thế hệ trẻ trung hơn nhưng vẫn mang cùng ý nghĩa.

We are the world được Michael Jackson và Lionel Richie viết năm 1985, được sản xuất bởi Quincy Jones (người gắn liền với tên tuổi Michael Jackson thời đỉnh cao danh vọng với album Thriller). Nhưng ý tưởng về việc ghi âm đĩa từ thiện lại đến từ Harry Belafonte - ông vua nhạc calypso, quen thuộc với bài Jamaica farewell được chuyển sang tiếng Việt thành Lời yêu thương. Lợi nhuận thu được từ đĩa nhạc dành hết cho việc cứu trợ nạn đói ở châu Phi.

we_are_the_world_25.jpg

Những tên tuổi nổi bật nhất của làng nhạc lúc đó đều góp mặt trong phần ghi âm ấy. Rất nhiều người đã đến thẳng phòng thu khi vừa tham dự lễ trao giải thưởng âm nhạc Mỹ đêm hôm đó. Khoảng 45 nghệ sĩ tham gia ghi âm. Trước khi vào phòng thu, một bảng thông báo được dán ngay cửa “Xin hãy bỏ lại cái tôi ngoài cửa!”.

Để tập hợp được một chòm sao khổng lồ như vậy không phải dễ. Cũng không thể thu tới thu lui nhiều lần. Stevie Wonder tuyên bố nếu như thu không xong trong một lần thì ông và Ray Charles - cả hai đều bị mù - sẽ lái xe chở mọi người về nhà!
Tua nhanh đến 25 năm sau, cuối năm 2009, đã có những ý tưởng thực hiện việc ghi âm kỷ niệm ca khúc này. Nhưng đến khi vụ động đất diễn ra ở Haiti thì điều kiện cần và đủ đều được đáp ứng.

Lần này có đến khoảng 80 nghệ sĩ tham gia ghi âm, được cập nhật thời đại mới với đoạn rap và sử dụng Auto-Tune. Auto-Tune là một công cụ xử lý âm thanh, giúp biến đổi các giọng hát đúng tông hoặc làm méo tiếng để tạo hiệu quả âm thanh. Một số nghệ sĩ đã sử dụng công cụ này trong phần biểu diễn live để màn trình diễn được hoàn hảo. Ca khúc từng sử dụng Auto-Tune đình đám nhất là bài Believe của Cher.

Bên cạnh Quincy Jones và Lionel Richie, hai gương mặt tham gia vào việc thực hiện bản gốc We are the world, thì lần này còn có sự tham dự của một nghệ sĩ Mỹ gốc Haiti là Wyclef Jean. Nhưng đó là những nhà sản xuất chỉ đạo, còn người trực tiếp thực hiện là hai nhà sản xuất đắt hàng hiện nay, RedOne - người đóng góp rất nhiều cho thành công của Lady Gaga, và Rickey Minor - đạo diễn âm nhạc cho chương trình American Idol.

Cái tên Michael Jackson được nhắc đi nhắc lại khi thực hiện đĩa nhạc này, tôn vinh lòng từ thiện của ông vua nhạc pop. Ai cũng tin chắc rằng nếu còn sống, Michael sẽ tích cực tham gia dự án này. Ngôi sao Taylor Swift đã không có mặt trong We are the world 25 vì đang bận lưu diễn ở Úc.

Với riêng tôi, We are the world 25 không mang lại cảm xúc đầy ắp bằng bản gốc. Thú thật là tôi cũng không đủ sức nhìn clip đọc tên 80 nghệ sĩ tham gia clip này như 45 nghệ sĩ trong clip cũ. Nhưng đây vẫn là một phần ghi âm cực kỳ ý nghĩa. Bởi suy cho cùng, âm nhạc được tạo nên bởi yêu thương, dù đó là tình yêu giữa hai con người dành cho nhau, hay tình yêu hướng đến nhân loại trên trái đất này.

Một số ca sĩ có mặt trong bản ghi âm "We are the world "mới có tuổi đời còn nhỏ hơn bài bài hát như Miley Cyrus, Joe Jonas, Jordin Sparks… Đó chính là ý tưởng của Lionel Richie, muốn hướng ca khúc này đến một thế hệ trẻ trung hơn nên đã chọn một đội hình ghi âm không lặp lại, ngoại trừ phần ghi âm của Michael Jackson, để mà “chúng tôi có thể trao gậy chỉ huy cho thế hệ kế tiếp” (lời của Lionel Richie). Một số gương mặt lão làng có mặt trong phần ghi âm mới là Tony Bennett, Brian Wilson, Santana, Barbra Streisand…

Giao lưu Eran Kats_ người giữ kỷ lục thế giới Guiness về khả năng ghi nhớ




(SVVN) Người ghi kỷ lục thế giới Guinness về khả năng nhớ Eran Katz đã đến VN và bạn có cơ hội là 1 trong số 200 người được chứng kiến khả năng siêu phàm này...



Để có tên trong Guinness, ông đã đọc được chính xác dãy 500 con số sau khi nghe một lần. Eran Kats hiện là thành viên của IBREA_ Hiệp hội Giáo dục trí tuệ thế giới.

Khoảng 200.000 người ở khắp nơi trên thế giới đã tham dự một trong 1.700 buổi nói chuyện và hội thảo của ông. Eran thường bắt đầu bằng cách yêu cầu từng người trong khán phòng nêu lên một con số bất kỳ và viết lại chúng trên bảng, tạo ra một dãy số khoảng 30 con số và sau đó ông có thể nhắm mắt nhắc lại chính xác từng số. Ông không chỉ giúp hàng trăm ngàn người cải thiện trí nhớ, mà còn mang lại những giờ phút sảng khoái và vui vẻ khi được nghe ông giảng.

Từ ngày 15-17 tháng 3 năm 2010, Eran Katz sẽ có 3 buổi giao lưu với độc giả Việt Nam về việc rèn luyện trí nhớ.

Buổi giao lưu đầu tiên sẽ diễn ra vào 20h ngày 15/3 tại Đại học Y Hải Phòng, do Alpha Books & Công ty Cổ phần truyền thông Thương hiệu Vàng (Hải Phòng) tổ chức.

Buổi giao lưu với độc giả Hà Nội sẽ diễn ra tại Phòng hội thảo Trung tâm Phụ nữ và Phát triển (20 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội) do Alpha Books phối hợp với Báo Hoa học trò & Sinh viên tổ chức.

Buổi giao lưu cuối cùng với độc giả TPHCM sẽ diễn ra tại Phòng hội thảo Hội chợ sách lần thứ 6 tại Công viên Lê Văn Tám, TP HCM do Alpha Books phối hợp với Fahasa tổ chức.

Tham dự chương trình, độc giả sẽ có cơ hội gặp gỡ Eran Katz, tiếp nhận các bí quyết rèn luyện trí nhớ siêu việt, giải đáp nhiều thắc mắc liên quan đến việc rèn luyện trí nhớ và nhận được những cuốn sách do chính Eran Katz ký tặng.

Eran Katz cho rằng: “Trí nhớ của bạn không hề kém chút nào! Chỉ vì bạn thường không tự tin vào trí nhớ của mình, cho rằng mình sinh ra đã có một trí nhớ không hoàn hảo, rồi cam chịu sống với nó suốt đời. Do đó, điều bạn cần làm ngay là thay đổi quan niệm sai lầm này”

Và ông cũng tiết lộ: “Tôi sinh ra không có năng khiếu gì đặc biệt. Khả năng nhớ của tôi đều do tập luyện từ nhỏ mà có… Phần lớn chúng ta cho đến cuối đời đều chỉ sử dụng được khoảng 10 % khả năng ghi nhớ của mình… Và để nhớ mọi thứ thật lâu, lời khuyên của tôi là: mỗi người hãy nhận thức lại cuộc sống để thấy cuộc sống của chúng ta thật là đáng quý. Nhiệt tinh với mọi điều trong cuộc sống, mọi thứ với chúng ta sẽ thật dễ nhớ”

Tại sao giới trẻ thích đọc sách chết chóc?




(SVVN)Những cuốn tiểu thuyết về bệnh ung thư, những vụ tai nạn ô tô và cuộc sống ở kiếp sau đều vọt lên hàng đầu trong danh sách ưa chuộng của mục YA (young adults – người trẻ). Tại sao giới trẻ lại mê những câu chuyện về chết chóc như vậy?


Kể từ khi Susie Salmon, cô gái bị sát hại trong cuốn tiểu thuyết bán siêu chạy “The Lovely Bones” (đã có ở Việt Nam với tựa “Hình hài dấu yêu”) của Alice Sebold, tạo ra một cú nổ trong giới xuất bản vào năm 2002, chúng ta đã thấy một loạt các nhân vật chính trẻ tuổi đều… chết hoặc sắp chết. Jenny Downham làm cả giới phê bình lẫn độc giả đều ồ à thích thú vào năm 2007 với cuốn “Before I Die” (đã có ở Việt Nam với tựa “Trước khi tôi chết”), trong đó, Tessa, 16 tuổi, cố… bỏ đi sự trong trắng của mình trước khi cô chết vì bệnh bạch cầu.

Jay Asher thành công rực rỡ trong cùng năm đó với “Thirteen Reasons Why” (tạm dịch: Mười ba lý do), trong đó có 13 người được gửi một băng cassette có liên quan đến Hannah Baker, một cô gái đã chết, nói về lý do tại sao cô ấy lại tự tử. Gabrielle Zevin cũng gây ấn tượng mạnh với Elsewhere (tạm dịch: Nơi nào đó khác), trong đó nạn nhân của một vụ tai nạn là Liz Hall, 15 tuổi, tỉnh dậy trên con tàu tới Nơi Nào Đó Khác, nơi mọi người ngày càng trẻ ra, cho đến khi họ đầu thai trở lại Trái Đất dưới hình hài các em bé.

Và với việc “The Lovely Bones” quay trở lại bảng xếp hạng sách bán chạy, nhờ sự ra mắt của bộ phim dựng từ câu chuyện đó, do Peter Jackson làm đạo diễn, thì xu hướng này có vẻ lại sẵn sàng leo cao nữa. Ngay đầu tháng 3, Lauren Oliver đã ra mắt cuốn sách đầu tiên “Before I Fall” (tạm dịch: “Trước khi tôi ngã xuống”) ở Mỹ, một câu chuyện “lai” hoàn hảo giữa “Groundhog Day” và “Lovely Bones”, trong đó Sam Kingston, 18 tuổi, chết trong một vụ tai nạn ô tô, để rồi sống đi sống lại ngày cuối cùng của mình.

book2.jpg

Hơi tăm tối + trải nghiệm cá nhân

Oliver, mới 26 tuổi, từng là trợ lý biên tập ở nhà xuất bản nổi tiếng Penguin ở New York, nói rằng cô không chỉ có cảm hứng từ “The Lovely Bones”, mà còn từ “một phong trào của thời đại hướng tới những tác phẩm hơi tăm tối”. “Đã có một thời, nhìn đâu cũng thấy những bìa sách màu hồng, và những cuốn sách cho giới trẻ đều nhẹ nhàng và hời hợt: như chúc mừng chủ nghĩa tiêu thụ” – Oliver nói – “Nhưng trào lưu chick-lit đã nguội đi được một thời gian. Sách là sự phản ánh nền văn hoá, [và] với cuộc khủng hoảng kinh tế, thì mọi người đều cảm thấy tối tăm hơn một chút”.

Gayle Forman, tác giả đi theo suy nghĩ của Mia, 17 tuổi, khi cô nhân vật chính này nằm hôn mê sau một vụ tai nạn ô tô – trong cuốn tiểu thuyết “If I Stay” (tạm dịch: Nếu tôi ở lại) được xuất bản vào năm ngoái, cảm thấy có sự kết nối giữa câu chuyện của mình với “Before I Die” (của Downham) và “Elsewhere” (của Zevin). Nhưng cuốn sách của cô, theo cô nói, xuất phát từ một trải nghiệm cá nhân: “Nhiều năm trước, mấy người bạn của tôi chết trong một tai nạn rất giống với vụ tai nạn đã cướp đi gia đình của Mia; và một thành viên trong gia đình đó, một cậu bé, còn sống được thêm một chút. Và tôi cứ luôn tự hỏi: liệu cậu bé ấy có biết không? Liệu cậu ấy có chọn cách đi cùng với cả gia đình mình không? Sau nhiều năm ám ảnh với câu hỏi đó, tôi đã tạo ra Mia, một nhân vật hoàn toàn hư cấu. Nhân vật này dẫn tôi đi trong một hành trình tìm câu trả lời” – Forman nói.

Giống như Forman, Asher nói câu chuyện của anh cũng bắt nguồn từ những trải nghiệm cá nhân, chứ anh thậm chí còn chưa đọc “The Lovely Bones” khi viết sách của mình. “Tôi có một người họ hàng gần đã tự tử từ hồi còn trẻ. Thực tế, đề tài cái chết thường là một cái cớ để thảo luận nhiều vấn đề mà rất nhiều người trẻ gặp phải”.

Người trẻ, theo Tiernan (tác giả cuốn “Immortal Beloved” - Người yêu bất tử) chỉ ra, đang ở giai đoạn phát triển mạnh. “Tôi thấy những chủ đề sống chết là cách để khám phá những cảm xúc cực điểm, thậm chí những cảm xúc đáng sợ, nhưng độc giả trải qua những điều đó chỉ bằng cách ngồi đọc an toàn trong căn phòng của mình” – Cô nói.

Xu hướng người kể chuyện đã chết còn “ăn khách” vì nó trao cho nhân vật chính các quyền năng siêu nhiên – Tiernan nói. “Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra cho một ai đó chính là chết. Nếu bạn đã chết (hoặc sắp), thì tức là điều tệ nhất đã xảy ra. Bạn chẳng còn gì tệ hơn mà sợ nữa. Theo một cách nào đó, như thế nó lại như trao cho bạn tự do” – Tiernan giải thích – “Nếu bạn đã chết, thì chẳng ai động được đến bạn nữa. Không ai làm đau bạn được nữa. Bạn có thể bước lui lại và quan sát thế giới xung quanh (như người trẻ thường làm, hoặc thường tưởng tượng mình có thể làm), mà chẳng cần phải tương tác với nó; chẳng cần có trách nhiệm phải thay đổi bất kỳ điều gì; chẳng cần phải đưa ra những quyết định khó khăn…”.

Đẩy xa các giới hạn và thanh lọc cảm xúc

Tại Hodder & Stoughton, một nhà xuất bản lớn ở Anh, thì biên tập viên Kate Howard khẳng định cũng đang tận dụng xu hướng này. Hodder & Stoughton sẽ phát hành sách của Oliver và Tiernan trong vòng 12 tháng tới, cũng như cuốn sách của tiểu thuyết gia bán sách rất chạy ở Mỹ là Ann Brasharesmột (tác giả “Quần jeans may mắn”), cuốn “My Name Is Memory” (tạm dịch: Tên tôi là ký ức), vào tháng 6/2010. Trong cuốn này, nhân vật chính Daniel có thể nhớ lại những kiếp trước của mình, và nhận ra linh hồn của những người mà anh từng biết.

Howard tin rằng việc giới trẻ mê loại sách này là do họ luôn mong muốn được đẩy xa các giới hạn. “Giới trẻ đang ở giai đoạn sống mà họ cảm thấy mình không thể bị đánh bại” – Cô nói – “Cái chết có vẻ rất xa đối với họ, và họ chỉ có thể khám phá điều đó, một cách thoải mái, qua những cuốn sách. Qua những cuốn sách kiểu này, họ có thể tìm được nhiều câu trả lời cho những câu hỏi mà họ thường băn khoăn về cuộc sống nói chung”.Lisa Schroeder, tác giả cuốn tiểu thuyết “I Heart You, You Haunt Me” (tạm dịch: Em yêu anh, anh ám ảnh em) năm 2008, kể về người bạn trai đã chết của một cô gái cứ quay về ám ảnh cô, cũng đồng ý như vậy. “Tôi nghĩ giới trẻ đọc những cuốn sách tối tăm vì họ thường cảm thấy rằng cuộc sống của mình cũng khá tăm tối.

Tuần nào tôi cũng nhận được thư của những người trẻ tuổi, kể rằng họ đang gặp khó khăn” – Schroeder nói – “Họ kể rằng họ đồng cảm với Ava, nhân vật chính trong sách của tôi. Hầu hết các bạn đó không phải là mới trải qua sự mất mát người thân, nhưng họ đều có những cảm giác đau khổ và cô độc. Tôi nghĩ có điều gì đó giống như sự thanh lọc cảm xúc khi các bạn ấy đọc về những rắc rối của những người khác, thậm chí là những khó khăn rất nghiêm trọng, và cách giải quyết của họ”.